Nghệ An

Thông tin chung

  1. Diện tích: 16.500 km2, là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước.
  2. Dân số: Hơn 3,3 triệu người, là địa phương đông dân thứ tư trong cả nước.
  3. Dân tộc: Có 06 dân tộc sinh sống là Kinh, H’Mông, Thổ, Thái, Khơ Mú, và Đan Lai. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số toàn tỉnh.
  4. Số đơn vị hành chính: Có 21 đơn vị hành chính gồm: 1 thành phố, 3 thị xã và 17 huyện.
  5. Cơ cấu kinh tế: Năm 2019, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chiếm 78,64%; tỷ trọng khu vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 21,36%.
  6. Cơ cấu dân cư: Năm 2019, tỷ lệ nam giới chiếm 50,27%, tỷ lệ nữ giới chiếm 49,73%.
  7. Cơ cấu lao động: Năm 2018, tỷ lệ lao động khu vực thành thị chiếm 13,2%; tỷ lệ lao động khu vực nông thôn chiếm 86,8%.
  8. Tỷ lệ hộ nghèo:

– Số huyện nghèo: Năm 2019 tỉnh Nghệ An còn 4 huyện, gồm có: Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong, Quỳ Châu.

– Tỷ lệ hộ nghèo: Năm 2019 tỷ lệ hộ nghèo tỉnh Nghệ An còn 4,11%.

– Tỷ lệ hộ cận nghèo: Năm 2019 tỷ lệ hộ cận nghèo tỉnh Nghệ An còn 7,57%.

  1. Mức thu nhập bình quân đầu người: Năm 2019 đạt 43,08 triệu đồng
  2. ƯU TIÊN VẬN ĐỘNG VIỆN TRỢ GIAI ĐOẠN 2020-2022
  3. Lĩnh vực giáo dục và đào tạo:
  4. a) Hỗ trợ đào tạo giáo viên:

– Thực trạng: Hiện nay, tại tỉnh Nghệ An,tỷ lệ giáo viên phổ thông đạt chuẩn về năng lực ngoại ngữ để triển khai chương trình ngoại ngữ mới chưa cao, đặc biệt ở các trường THPT (mới có 31% giáo viên đạt chuẩn) theo tiêu chuẩn quốc gia; còn rất thấp theo tiêu chuẩn quốc tế.

– Kiến nghị: Triển khai bồi dưỡng, đào tạo lại giáo viên ngoại ngữ trên địa bàn tỉnh Nghệ An nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông 2018; Luật Giáo dục 2019 và Chương trình dạy học tăng cường.

  1. b) Hỗ trợ dạy và học ngoại ngữ, cung cấp giáo viên tình nguyện:

– Thực trạng: Tại các trường THPT chuyên và các trường THCS trọng điểm chất lượng cao của tỉnh chưa có giáo viên nước ngoài giảng dạy. Điều này làm hạn chế phần nào kiến thức, trình độ ngoại ngữ của các em học sinh đang theo học khối ngoại ngữ.

– Kiến nghị: Hỗ trợ cung cấp giáo viên ngoại ngữ tình nguyện đảm bảo nâng cao chất lượng dạy và học tại trường THPT Chuyên Phan Bội Châu với các môn chuyên ngữ: Tiếng Anh, Tiếng Nga và ưu tiên Tiếng Nhật; tại 5 trường THPT và 9 trường THCS trong đề án thí điểm xây dựng trường phổ thông trọng điểm chất lượng cao của tỉnh với ngoại ngữ tiếng Anh.

  1. c) Xây dựng cơ sở hạ tầng giáo dục:

– Thực trạng: Hiện nay, trên địa bàn huyện Quế Phong có tổng số 27/48 trường đạt chuẩn quốc gia; nhưng đặc biệt đang có rất nhiều điểm trường còn có những phòng học, phòng chức năng của học sinh và phòng ở công vụ của giáo viên đang dột nát, tạm bợ, mượn, cụ thể: Nhu cầu cần hỗ trợ xóa nhà tạm dột nát là 150 phòng, trong đó 46 phòng học, 88 phòng chức năng và 16 phòng ở công vụ.

– Kiến nghị: Thực hiện dự án hỗ trợ xóa nhà học, nhà công vụ giáo viên tạm bợ, dột nát tại huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

  1. Lĩnh vực y tế:
  2. a) Đào tạo cán bộ y tế:

– Thực trạng: Tại khu vực miền Tây Nghệ An có chất lượng khám, chữa bệnh chưa đáp ứng yêu cầu, dẫn tới tình trạng bệnh nhân vượt tuyến nhiều, gây quá tải cho tuyến trên. Chất lượng chuyên môn khám, chữa bệnh yếu do thiếu đội ngũ y bác sỹ cả về số lượng và chất lượng ở tất cả các tuyến huyện. Đặc biệt thiếu bác sỹ có trình độ cao, bác sỹ các chuyên khoa (Chẩn ñoán hình ảnh, xét nghiệm, tai mũi họng, mắt, răng hàm mặt, nội tiết,…), thiếu bác sỹ ở trạm y tế xã

–  Kiến nghị: Hỗ trợ các chương trình, dự án đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức cho cán bộ y tế từ tuyến thôn, bản, xã đến cấp huyện tại khu vực miền Tây Nghệ An.

  1. b) Phát triển hạ tầng cơ sở y tế:

– Thực trạng: Một số trạm y tế tại khu vực miền Tây Nghệ An có cơ sở hạ tầng xuống cấp nghiêm trọng, thiếu trang thiết bị thiết yếu phục vụ công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân. Thiếu trang thiết bị công nghệ cao ở một số bệnh viện, thiếu trang thiết bị thiết yếu ở một số trạm y tế xã.

– Kiến nghị: Hỗ trợ triển khai các dự án về nâng cấp, xây dựng, cung cấp các trang thiết bị y tế, chuyển giao công nghệ cho các cơ sở y tế tuyến huyện và tuyến xã tại khu vực các huyện miền Tây Nghệ An.

  1. c) Hỗ trợ các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế:

– Thực trạng: Khu vực miền Tây Nghệ An là địa bàn có nhiều khó khăn, phức tạp, điều kiện kinh tế- xã hội chậm phát triển, thủ tục lạc hậu vẫn còn, phát sinh dịch bệnh, các tệ nạn xã hội như: Tiêm chích ma túy, mại dâm, nhiễm HIV/AIDS có chiều hướng gia tăng, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng ở còn ở mức cao.

– Kiến nghị:

+ Hỗ trợ thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế tại khu vực miền Tây Nghệ An: các hoạt động phòng, chống và điều trị cho người có HIV/AIDS; phòng, chống và giảm tác hại của ma túy; phòng chống sốt rét, lao phổi, chống phong, nước sạch và vệ sinh môi trường; phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em ở độ tuổi mầm non;

+ Triển khai các hoạt động khám chữa bệnh nhân đạo cho trẻ em, người già, người dân của khu vực miền Tây Nghệ An.

  1. Lĩnh vực Nông, lâm, ngư nghiệp và phát triển nông thôn:
  2. a) Hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh trên địa bàn tỉnh Nghệ An:

– Thực trạng:

Toàn tỉnh hiện có tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC hơn 22.808 ha, chiếm 7,5% diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Sản xuất rau, củ, quả: 1.645,85 ha; Sản xuất cây lâu năm và cây ăn quả: 1.920,21 ha; Sản xuất cây thức ăn nuôi bò sữa: 3.520 ha; 3.662 ha mía nguyên liệu; 11.616 ha lúa; 252 ha lạc; 6 ha giống chanh leo; 170,24 ha cây dược liệu và một số cây khác như hoa lan, rễ hương… 15,7 ha (Áp dụng công nghệ canh tác theo quy trình Viet GAP, Organic, công nghệ thâm canh cây trồng theo SRI, ICM, tưới phun nhỏ dọt ngoài trời và sản xuất giống cây trồng hơn 15.026 ha.

           Sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế, mới tập trung chủ yếu vào việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật ở từng khâu của quá trình sản xuất, mà chưa có nhiều sản phẩm ứng dụng CNC theo chuổi giá trị sản phẩm, nên hiệu quả mang chưa cao, thiếu tính bền vững. Việc ứng dụng các công nghệ thông tin, tự động hóa sản xuất, công nghệ sinh học, các quy trình canh tác tiên tiến chưa thực hiện được.

Sản xuất nông sản theo tiêu chuẩn sạch, an toàn (GAP) được chú trọng nhưng việc duy trì gặp nhiều khó khăn về tiêu thụ sản phẩm.

– Kiến nghị: Hỗ trợ vốn, công nghệ sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp xanh cho các hợp tác xã, các tổ hợp tác tại các huyện Diễn Châu, Nam Đàn, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quế Phong, Con Cuông, Anh Sơn

  1. b) Hạ tầng cơ sở nông thôn vùng núi cao:

– Thực trạng:

Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn của một số xã, thôn, bản thuộc các huyện Kỳ Sơn, Quế Phong, Tương Dương đặc biệt các xã biên giới Việt Nam – Lào hết sức khó khăn. Nhiều bản vùng sâu, vùng xa chưa có điện lưới quốc gia; đường giao thông đi lại xuống cấp nghiêm trọng một số bản chưa có đường đi chủ yếu sử dụng các lối mòn; không có các công trình cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt… vì vậy đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số khu vực này vô cùng khoa khăn, nghèo đói.

  • Kiến nghị: Xây dựng công trình cấp nước nông nghiệp và nước sinh hoạt cho một số bản khó khăn tại các huyện miền núi: Kỳ Sơn, Quế Phong, Tương Dương.
  1. Lĩnh vực giải quyết các vấn đề xã hội:
  2. a) Hỗ trợ nâng cấp, cải tạo các cơ sở trợ giúp xã hội:

– Thực trạng: Các cơ sở bảo trợ xã hội còn thiếu các trang thiết bị y tế, cơ sở hạ tầng xuống cấp, thiếu trang thiết bị học nghề.

Kiến nghị:

+ Hỗ trợ dụng cụ, thiết bị y tế và thiết bị phục hồi chức năng và xây dựng mới hoặc sửa chữa, nâng cấp nhà ở cho Trung tâm bảo trợ xã hội.

+ Bổ sung trang thiết bị cho Ngôi nhà Hướng Dương: nhà tạm lánh cho đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp; Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị cho cơ sở chăm sóc trẻ em mồ côi, người cao tuổi; Cung cấp đồ chơi cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; Cung cấp xe cứu thương (xe phục vụ chăm sóc y tế cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn).

+ Xây dựng nhà thực hành cho học sinh khuyết tật học và thực hành mô hình nghề; Sửa chữa khu nhà nội trú cho học sinh học nghề; Cung cấp trang thiết bị phục vụ học nghề đối với người khuyết tật cho Trung tâm Giáo dục, dạy nghề người khuyết tật.

  1. b) Lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em:

– Thực trạng:

Toàn tỉnh có hơn 15.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, 11.940 trẻ em bị khuyết tật các loại, trong đó có 1.799 trẻ em khuyết tật thuộc hộ nghèo và 2.504 trẻ em khuyết tật thuộc hộ cận nghèo.. Việc dạy nghề và tạo việc làm cho trẻ em khuyết tật, trẻ em khó khăn còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện.

Mặc dù học sinh tiểu học được miễn học phí, nhưng các khoản kinh phí còn lại đều khá nhiều. Đối với các gia đình khó khăn thì các khoản chi tiêu trong gia đình đã là một áp lực rất lớn chưa nói đến chi phí học tập của các con. Rất nhiều em vì gia đình khó khăn phải đối diện với nguy cơ bỏ học. Trong số các em học sinh nghèo thì có rất nhiều em chăm ngoan học giỏi. Các em này cần có khoản tiền học bổng để động viên, khích lệ kịp thời.

– Kiến nghị:

+ Tăng cường mở thêm nhiều hơn nữa các lớp dạy nghề cho trẻ em khuyết tật, trẻ em khó khăn dưới 16 tuổi có khả năng lao động, đủ sức khỏe đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Nghệ An, cụ thể: 01năm/02 lớp x 150.000.000 đ/1lớp x 3 năm = 900.000.000 đ

+ Hỗ trợ phẫu thuật, điều trị các bệnh về tim: 50.000.000 đ/ca x 50 ca/năm x 03 năm = 7.500.000.000 đ

+ Hỗ trợ phẫu thuật Phục hồi chức năng về khuyết tật cơ quan vận động: 10.000.000 đ/ca x 50 ca/năm x 03 năm = 1.500.000.000 đ

+ Hỗ trợ điều trị Phục hồi chức năng, Vật lý trị liệu sau phẫu thuật về khuyết tật cơ quan vận động: 2.000.000 đ/ca/tháng x 150 ca x 12 tháng = 3.600.000.000 đ

+ Hỗ trợ phẫu thuật cho trẻ em bị khe hở môi, vòm miệng: 8.000.000 đ/ca x 50 ca/năm x 03 năm = 1.200.000.000 đ

+ Hỗ trợ giáo dục về ngôn ngữ trị liệu (luyện giọng nói) sau phẫu thuật khe hở môi, vòm miệng: 2.000.000 đ/ca/tháng x 150 ca x 12 tháng = 3.600.000 đ

+ Hỗ trợ phẫu thuật các bệnh dị tật đường tiệt niệu và hệ sinh dục: 7.000.000 đ/ca x 50 ca/năm = 1.050.000 đ

+ Hỗ trợ phẫu thuật các bệnh về mắt: 6.000.000 đ/ca x 50 ca/năm x 03 năm = 900.000.000 đ

+ Hỗ trợ học bổng cho trẻ em nghèo, trẻ em vùng dân tộc, miền núi, trẻ em có hoàn cảnh khó khănvượt khó vươn lên trong học tập, đang đi học từ lớp 2 đến lớp 10: 630 em x 3.000.000 đ/em/năm x 03 năm = 5.670.000 đ

  1. c) Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp:

– Kiến nghị:

+ Hỗ trợ kinh phí để tổ chức đào tạo nghề nghiệp cho các đối tượng học sinh, sinh viên là người khuyết tật, dân tộc thiểu số, hộ nghèo, cận nghèo.

+ Hỗ trợ kinh phí  mua sắm thiết bị, cơ sở vật chất đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đảm bảo các điều kiện đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

+ Hỗ trợ xây dựng; chuyển giao một số chương giáo trình đào tạo của các nước tiên tiến trong khu vực và quốc tế cho các trường cao đẳng, trung cấp.

+ Cung cấp chuyên gia, giáo viên có trình độ cao tham gia giảng dạy một số ngành nghề, nhất là các ngành nghề cấp độ quốc tế, khu vực ASEAN, ngoại ngữ.

  1. Lĩnh vực môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và cứu trợ khẩn cấp:
  2. a) Hỗ trợ xây dựng các mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Nghệ An:

– Thực trạng: Trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 15 khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt đang hoạt động, trong đó có 13 bãi chôn lấp chất thải rắn (2 bãi chôn lấp thuộc danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng) và 3 nhà máy xử lý chất thải rắn. Hiện nay, hầu hết các bãi chôn lấp đang trong tình trạng quá tải, lượng rác thải chưa được xử lý bị tồn đọng trong nhiều ngày, phát sinh nhiều vấn đề về môi trường, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Tại một số huyện không có khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt hay khu xử lý quy mô nhỏ, các xã tổ chức thu gom về các điểm tập kết rác trên địa bàn từng xã và xử lý bằng phương pháp đốt thủ công. Việc xử lý chất thải rắn sinh hoạt triệt để, đảm bảo vệ sinh môi trường là một vấn đề nan giải, đòi hỏi phải đầu tư đồng bộ các khu xử lý với công nghệ tiên tiến hiện đại; hiện nay công nghệ xử lý chủ yếu là chôn lấp, làm compost; công nghệ đốt còn hạn chế do chi phí đầu tư, xử lý cao.

Trong thời gian tới, tỉnh Nghệ An đang tiếp tục đầu tư một số dự án nhà máy xử lý chất thải rắn bằng công nghệ đốt tại một số huyện và mở rộng một số bãi chôn lấp đang bị quá tải.

– Kiến nghị:

+ Xây dựng mô hình phân loại chất thải rắn tại nguồn trên địa bàn toàn tỉnh tại địa bàn 21 huyện, thành phố, thị xã của tỉnh Nghệ An;

+ Xây dựng mô hình thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt liên huyện tại các huyện trung du, miền núi với địa bàn ưu tiên như sau: Cụm 1: Anh Sơn, Con Cuông, Thanh Chương; Cụm 2: Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương; Cụm 3: Quỳ Châu, Tương Dương, Quế Phong, Kỳ Sơn.

  1. b) Hỗ trợ điều tra, xử lý các điềm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật:

– Thực trạng: Nghệ An là tỉnh có nhiều điểm ô nhiễm nhất do thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu trên địa bàn cả nước, kinh phí để thực hiện xử lý các điểm này là rất lớn trong khi hầu hết các điểm chưa có thông tin về phạm vi, mức độ ô nhiễm mà Trung ương không hỗ trợ phần kinh phí thực hiện điều tra, khảo sát và đền bù giải phóng mặt bằng. Kinh phí bố trí thực hiện xử lý và phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu còn hạn hẹp.

– Kiến nghị: Hỗ trợ triển khai thực hiện các dự án về điều tra, xử lý tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Nghệ An

  1. c) Hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu:

– Thực trạng: Biến đổi khí hậu đã tác động nghiêm trọng đến phát triển kinh tế – xã hội trên phạm vi toàn thế giới, đang làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu như năng lượng, nước, lương thực, xã hội, việc làm, chính trị, ngoại giao và văn hóa…Những năm gần đây biến đổi khí hậu đã tác động nghiêm trọng đến phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng. Tại Nghệ An, khu vực các huyện ven biển chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ biến đổi khí hậu.

– Kiến nghị: Hỗ trợ tỉnh Nghệ An thực hiện một số dự án ứng phó với biến đổi khí hậu như sau:

+ Dự án “ Xây dựng mô hình tài nguyên nước dưới đất khu vực các các huyện ven biển tỉnh Nghệ An ( Bao gồm: Thị xã Cửa Lò, thị xã Hoàng Mai, các huyện: Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu) phục vụ quản lý khai thác, sử dụng nước dưới đất và ứng phó với Biến đổi khí hậu và nước biển dâng”;

+ Dự án “Đánh giá tính dễ tổn thương của cộng đồng dân cư Nghệ An trước những tác động của biến đổi khí hậu làm cơ sở định hướng cho các giải pháp thích ứng và giảm thiểu”;

+ Dự án “Xây dựng hệ thống quan trắc cảnh báo lũ ống, lũ quét và sạt lở đất cho 10 huyện miền núi tỉnh Nghệ An”;

+ Dự án “Thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học, pháp luật, nâng cao nhận thức, năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu cho cộng đồng dân cư.”;

+ Dự án “Kiểm kê khí nhà kính và đề xuất các giải pháp quản lý phát thải khí nhà kính trên địa bàn tỉnh Nghệ An”.

  1. Cơ quan đầu mối về công tác phi chính phủ nước ngoài ở Nghệ An

Tên cơ quan: Sở Ngoại vụ

Địa chỉ: Số 144 Đinh Công Tráng, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Điện thoại: 02383.833669/02383.560724

Email: ngoaivu@nghean.gov.vn