Ủy ban công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
ỦY BAN CÔNG TÁC VỀ CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI
THE COMMITTEE FOR FOREIGN NON-GOVERNMENTAL ORGANIZATION AFFAIRS

Công tác viện trợ phi chính phủ nước ngoài (PCPNN) cho giáo dục và đào tạo (GD&DT) giai đoạn 2003-2013 và phương hướng thực hiện giai đoạn 2014-2017

Ngày tháng: 06/12/2013 5:25 CH
Lượt xem: 27963
Cỡ chữ

I. ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC VIỆN TRỢ PCPNN GIAI ĐOẠN 2003-2013:

1. Tổng quan:

Thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng và Nhà nước, được sự giúp đỡ và hỗ trợ của Chính phủ và các cơ quan quản lý cấp trung ương và địa phương, trong nhiều năm qua ngành GD&ĐT toàn quốc đã không ngừng nỗ lực hợp tác và vận động viện trợ của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ nhằm tăng cường, huy động mọi nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển chung của ngành đóng góp vào công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội của đất nước.

             Viện trợ của các tổ chức PCPNN cho các dự án do Bộ GD&ĐT làm cơ quan chủ quản hiện đạt con số trung bình khoảng 3,55 triệu USD/năm cho 10 năm vừa qua (tổng số vốn xấp xỉ là 35,5 triệu USD) và hơn 4,0 triệu USD/năm trong 3 năm gần đây. Bên cạnh đó còn có một số viện trợ phi dự án nhằm tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và công tác của các tình nguyện viên cho các trường. Thống kê cho thấy, nguồn vốn viện trợ của các tổ chức PCPNN thông qua Bộ GD&ĐT trong 10 năm qua là khoảng 50 dự án được tập trung chủ yếu ở bốn nội dung chính như sau:

1)     Xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất;

2)     Nâng cao năng lực, phát triển chương trình đào tạo;

3)     Hỗ trợ cho học sinh, sinh viên thiệt thòi, người khuyết tật; và

4)     Các dự án nghiên cứu ứng dụng.

         

          Bên cạnh một vài dự viện trợ trực tiếp về cơ sở vật chất, hầu hết các dự án được thực hiện qua các trường đại học của Việt Nam. Công tác vận động viện trợ PCPNN của Bộ Giáo dục và Đào tạo đều được tiến hành theo đúng định hướng của ngành trên cơ sở năng lực của đơn vị tiếp nhận. Những dự án PCPNN triển khai tại địa phương đều có ý kiến thống nhất của địa phương.

 

2. Thành tựu:

Các dự án này thông qua các hình thức hợp tác nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ nhằm giải quyết nhiều vấn đề cấp bách của xã hội như vệ sinh môi trường, biến đổi khí hậu, an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khỏe, chương trình khuyến nông, nuôi trồng thủy sản... Kết hợp với các hợp phần nghiên cứu và ứng dụng của dự án là việc cung cấp một số trang thiết bị và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, giảng viên của các trường đại học thụ hưởng. Bên cạnh đó, những dự án này cũng trực tiếp và gián tiếp nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục và tri thức của nhiều đối tượng trong xã hội.

          Thông qua Các dự án PCPNN vừa qua đã tạo cơ hội cho các cán bộ, giảng viên được đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong nước và nước ngoài và một số cán bộ giảng viên được tham gia khóa đào tạo ngắn hạn ở nước ngoài. Bên cạnh đó, rất nhiều cán bộ địa phương và người dân được nâng cao năng lực về các lĩnh vực liên quan.

          Các dự án hỗ trợ về cơ sở vật chất, hỗ trợ học sinh, sinh viên thiệt thòi, người khuyết tật, cải thiện hệ thống tế cộng đồng, y tế học đường đã mang lại lợi ích thiết thực trong phát triển giáo dục.

          Tuy giá trị viện trợ PCPNN cho giáo dục và đào tạo còn khá khiêm tốn nhưng đã mang lại hiệu quả thiết thực, phù hợp với mục tiêu và ưu tiên phát triển của ngành. Tất cả báo cáo tình hình sử dụng PCPNN hàng năm cho đều cho thấy nguồn vốn PCPNN được sử dụng rất hiệu quả, đảm bảo đúng mục đích, mục tiêu, tiến độ của dự án và được các nhà tài trợ đánh giá rất cao. Đơn cử như Dự án Xây dựng Trung tâm Carlo Urbani do Trường Đại học Sassari, Italia tài trợ cho Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế đã được triển khai thành công và hiện nay Nhà tài trợ nhất trí tiếp tục tài trợ cho giai đoạn 3 của Dự án. Một ví dụ điển hình khác chính là dự án trang bị bảng chống lóa cho một số địa phương của Việt Nam do công ty Bouyung (Hàn Quốc) đài thọ với giá trị lên đến 10 triệu USD. Số lượng bảng chống lóa này đã giúp các thày cô giáo và các em học sinh nâng cao chất lượng dạy và học nhiều năm qua.

          Các tổ chức PCPNN hợp tác với Bộ GD&ĐT chủ yếu tập trung vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Tất cả các chương trình/dự án này được thực hiện có sự tham gia tích cực từ phía các cơ sở thụ hưởng, chính quyền địa phương và người tham gia dự án. Nhìn chung, hoạt động viện trợ của các tổ chức PCPNN khá đa dạng về hình thức và có đóng góp quan trọng đối với ngành.

          Hoạt động tình nguyện viên nói chung đang dần được ổn định trên cơ sở các văn bản pháp lý hiện hành về cư trú, thẻ lao động cũng như công tác quản lý người nước ngoài và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ như tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn…. Một số lượng lớn tình nguyện viên đến Việt Nam thông qua các dự án hoặc bảo trợ của các tổ chức như JICA, Orphan Voice, GAP… đều có hoạt động lâu dài và có đóng góp tích cực, các hoạt động hỗ trợ của các tình nguyện viên này mang tính thực tế, có tính chuyên môn cao, đáp ứng được yêu cầu của ngành. Có thể nói sự đóng góp của những tình nguyện viên nói trên là quan trọng đối với chiến lược hội nhập quốc tế của Việt Nam đến 2020.

 

3. Thuận lợi :

Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước là khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng quốc tế, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (TCPCPNN) hiểu biết hơn về đất nước, con người, lịch sử và văn hoá của Việt Nam, góp phần thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới, qua đó tiếp nhận sự quan tâm giúp đỡ tài trợ cho những vùng, những lĩnh vực còn khó khăn và chậm phát triển.

          Theo Nghị quyết Hội nghị TW 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong phần nhiệm vụ và giải pháp có nêu rõ: ‘Có cơ chế khuyến khích các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ ở Việt Nam. Tăng cường giao lưu văn hóa và học thuật quốc tế’.

          Những chủ trương này đã cụ thể hóa bằng những văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động viện trợ PCPNN, trong đó có Thông tư số 06/2011/TT-BGDĐT  ngày 11 tháng 02 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ nước ngoài của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

 

 

4. Khó khăn :

Bối cảnh nền kinh tế thế giới còn gặp nhiều khó khăn sau khủng hoảng, nhiều quốc gia tài trợ rơi vào suy thoái, nguồn tài chính cho viện trợ phát triển nói chung và các TCPCPNN nói riêng có thể gặp khó khăn. Việt Nam đã trở thành một nước có thu nhập trung bình thấp và vì thế chính sách tài trợ của nhiều nước và nhà tài trợ không còn ưu tiên cho Việt Nam. Trong những năm tới, viện trợ PCPNN khó có thể giữ được xu hướng tăng như 10 năm vừa qua. Bên cạnh đó còn một số khó khăn về thủ tục hành chính khi thực hiện theo Nghị định 93/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ:

             - Trên thực tế, thủ tục phê duyệt tiếp nhận hàng viện trợ phi dự án đã qua sử dụng chậm. Đối với các trường hợp tổ chức tài trợ ở nước ngoài và không có đại diện tại Việt Nam thì quy trình thẩm định còn kéo dài hơn.

- Chế độ báo cáo đòi hỏi nhiều thời gian để chủ khoản viện trợ thực hiện. Trong khi đó, những khoản viện trợ quy mô nhỏ thì thường không thành lập ban quản lý dự án nên khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu báo cáo.

 

II. HỢP TÁC CỦA BỘ GD&ĐT VỚI CÁC TỔ CHỨC PCPNN:

Trong 10 năm qua, quan hệ của Bộ GD&ĐT và các đơn vị trực thuộc Bộ với các tổ chức PCPNN ngày càng phát triển. Bộ GD&ĐT đã và đang nhận được nguồn viện trợ từ rất nhiều tổ chức PCPNN như Quỹ Ford, Tổ chức đại học Pháp ngữ AUF, Tổ chức GAP, Tổ chức Đông Tây Hội ngộ, Quỹ Buffet, Tổ chức Atlantic Philanthropies, Tổ chức CRS, Tổ chức Save the Children, Quỹ Monsato, Tổ chức ICCO&Kerk in Actie, Quỹ Rockefeller, Tổ chức Action Aid, Tổ chức Oxfam Anh… Đồng thời, Bộ GD&ĐT cũng nhận được rất nhiều nguồn viện trợ từ các trường đại học trong khu vực và trên toàn thế giới. Sự hợp tác ngày càng chặt chẽ này của Bộ Giáo dục và Đào tạo với mạng lưới các Tổ chức PCPNN hứa hẹn thêm nhiều nguồn viện trợ mới trong tương lai.

            Các tổ chức PCPNN tại Việt Nam hoạt động dưới hình thức có thành lập văn phòng hoặc không có văn phòng (chỉ có giấy phép). Hoạt động hợp tác trong giáo dục và đào tạo thường là giữa: các tổ chức PCPNN và các đối tác như : Bộ GD&ĐT, các Sở GD&ĐT, các học viện, các trường đại học, cao đẳng, các tổ chức chính trị, xã hội khác… Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, có 2 phương thức hoạt động: 1) Trực tiếp với các đơn vị cơ sở và địa phương ; 2) Qua một đơn vị quản lý cấp cao hơn (ví dụ như Bộ GD&ĐT). Mỗi phương thức sẽ có những ưu nhược điểm riêng. Phương thức trực tiếp với các đơn vị cơ sở có thể giảm bớt được một số thủ tục hành chính nhất định nhưng khó có cái nhìn vĩ mô và khả năng hợp tác theo đúng nhu cầu và năng lực của đối tác. Phương thức trực tiếp sẽ phù hợp với các dự án có quy mô nhỏ. Đối với phương thức thông qua một đơn vị quản lý cấp quản lý cao hơn (Ví dụ : Bộ Giáo dục và Đào tạo) thì việc triển khai dự án sẽ dễ dàng đạt được đúng mục tiêu và nhu cầu của cơ sở hơn do có cái nhìn vĩ mô hơn. Phương thức này thường phù hợp với những dự án lớn, có nhiều đơn vị cơ sở cùng  thực hiện.

            Bộ GD&ĐT luôn mong muốn tăng cường hợp tác với các tổ chức PCPNN để: 1) Duy trì và nâng cao hiệu quả của viện trợ PCPNN; 2) Cùng các tổ chức này xây dựng một môi trường pháp lý thuận lợi các các hoạt động viện trợ của các tổ chức phi chính phủ cho giáo dục và đào tạo.

 

III. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CHO GIAI ĐOẠN 2013-2017

Định hướng cho công tác viện trợ PCPNN trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo được thực hiện theo Quyết định số 40/2013/QĐ-TTg ngày 10 tháng 7 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2013-2017. Việt Nam là một trong 5 nước chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu. Những trận bão, lũ, thiên tại xảy ra trong thời gian vừa qua đã gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và việc học tập của học sinh sinh viên trong vùng. Chúng tôi có một số kiến nghị về những lĩnh vực cần ưu tiên viện trợ như sau:

 

1. Định hướng chung:

Viện trợ của các tổ chức PCPNN cần phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược xóa đói giảm nghèo của cả nước, phù hợp với quy hoạch và ưu tiên phát triển theo ngành và của từng địa phương, hỗ trợ cho những nỗ lực giảm nghèo và phát triển bền vững của Chính phủ Việt Nam

 

2. Lĩnh vực ưu tiên vận động viện trợ:

- Hỗ trợ đào tạo giáo viên các cấp, ưu tiên đối với giáo viên mầm non, tiểu học và trung học cơ sở ở các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số;

- Xây dựng cơ sở hạ tầng giáo dục: hỗ trợ xây dựng các trường đại học, trung học, tiểu học và các trường mầm non; xây dựng hệ thống các trường dân tộc nội trú, hệ thống nhà nội trú, bán trú; phát triển hệ thống thư viện phù hợp với yêu cầu của từng cấp;

- Trao đổi giáo dục, hỗ trợ dạy và học ngoại ngữ, cung cấp giáo viên tình nguyện các chuyên ngành cho các trường đào tạo chuyên sâu, các trường phổ thông;

- Cung cấp học bổng đào tạo trong và ngoài nước;

- Hỗ trợ đào tạo công nghệ thông tin cho các trường phổ thông, nhất là ở vùng nông thôn, vùng núi, vùng sâu ;

- Ứng phó biến đổi khí hậu, phòng chống tai nạn, thương tích cho trẻ em, học sinh, sinh viên vùng bão lũ (tai nạn nước);

- Giáo dục phòng chống các tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm) có nguy cơ xâm nhập học đường;

- Hỗ trợ nước sạch và vệ sinh môi trường học đường.

 

IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Để thúc đầy tốt hơn công tác xúc tiến viện trợ và triển khai dự án đạt hiệu quả cao, một số kiến nghị như sau:

i)   Tập trung cho những lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo;

ii)   Công tác chuẩn bị và tìm đúng đối tác cũng là một yếu tố quan trọng trong thành công của dự án.

iii)  Các bên đối tác cần hợp tác và tạo mọi điều kiện (trong khuôn khổ của pháp luật) cho đối tác thực hiện tốt nhất công việc của mình ;

iv)   Cởi mở đối thoại trực tiếp giữa các bên, có những chương trình tổng kết, rút kinh nghiệm;

v)   Học hỏi kinh nghiệm xúc tiến và triển khai các dự án viện trợ cho giáo dục và đào tạo từ các nước khác và tìm cách áp dùng cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

vi)   Các tổ chức PCPNN tiếp tục quan tâm và giúp đỡ Việt Nam trong đó có giáo dục và đào tạo trong thời gian tới.
Top